Lập di chúc là quyền của mỗi cá nhân thể hiện ý chỉ về việc định đoạt tài sản của mình sau khi mất. Di chúc có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của người thừa kế và người thụ hưởng di sản. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, người lập di chúc muốn ràng buộc về việc sử dụng và bảo toàn di sản, không cho phép bán hoặc chuyển nhượng di sản là quyền sử dụng đất.
Lập di chúc với nội dung không được bán đất có được không?
Theo quy định tại Điều 624 Bộ luật dân sự năm 2015, di chúc được hiểu là sự thể hiện ý chí của cá nhân với mục đích để lại tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Một trong các điều kiện có hiệu lực của di chúc là nội dung di chúc đảm bảo không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái với đạo đức xã hội.
Như vậy, người để lại di sản lập di chúc với điều kiện người nhận di sản, người thừa kế không được bán, chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà không vi phạm điều cấm pháp luật, không trái đạo đức xã hội thì vẫn có thể được. Di chúc vẫn được xem là hợp pháp nếu đáp ứng các điều kiện có hiệu lực còn lại.
Di chúc có nội dung không được bán đất nhưng vẫn bán có được không?
Nếu trong di chúc có nội dung không được bán lại/chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng người nhận di sản vẫn muốn bán thì cần xét trong 02 trường hợp sau:
-
Di sản dùng vào việc thờ cúng
Theo khoản 3 Điều 626 Bộ luật Dân sự 2015, người lập di chúc có quyền “dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng”.
Đồng thời Khoản 1 Điều 645 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Trường hợp người lập di chúc để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng thì phần di sản đó không được chia thừa kế và được giao cho người đã được chỉ định trong di chúc quản lý để thực hiện việc thờ cúng; nếu người được chỉ định không thực hiện đúng di chúc hoặc không theo thỏa thuận của những người thừa kế thì những người thừa kế có quyền giao phần di sản dùng vào việc thờ cúng cho người khác quản lý để thờ cúng”.
Như vậy, người để lại di sản lập di chúc nêu rõ di sản chỉ được sử dụng vào việc thờ cúng thì người nhận di sản không thể bán lại hoặc chuyển nhượng cho bất kỳ ai.
Nếu không thực hiện đúng di chúc hoặc không theo thỏa thuận của những người thừa kế thì căn nhà đó sẽ cho người khác quản lý để thờ cúng. Đây là một cơ chế để ràng buộc người thừa kế không được chuyển nhượng tài sản.
-
Di sản không sử dụng vào việc thờ cúng
Nếu trong di chúc không nêu rõ di sản thừa kế chỉ sử dụng vào việc thờ cúng mà chỉ nêu di sản không được phép chuyển nhượng cho người khác thì đây chỉ là nguyện vọng của người để lại di chúc.
Căn cứ điểm a khoản 4, Khoản 6 Điều 95 Luật Đất đai 2013, trường hợp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất thì trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày khai nhận di sản thừa kế là phải đăng ký biến động.
Khi sang tên xong thì người thừa kế là người sử dụng đất và được Nhà nước công nhận trong Giấy chứng nhận, sẽ có đầy đủ các quyền của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai như chuyển nhượng, tặng cho, để lại thừa kế, thế chấp,…
Như vậy, dù di chúc có nội dung không được mua bán, chuyển nhượng cho bất kỳ ai thì người nhận di sản vẫn có thể chuyển nhượng được. Việc bán hay không bán khối tài sản lúc này do họ định đoạt.
Để đảm bảo di nguyện của mình được thực hiện, người để lại di sản có thể yêu cầu Thừa phát lại lập vi bằng ghi nhận việc mình lập di chúc về việc để lại di sản cho người được nhận thừa kế với điều kiện người nhận di sản, người thừa kế chỉ được sử dụng di sản vào việc thờ cúng, không được bán, chuyển nhượng quyền sử dụng đất,…
Giá trị pháp lý của bản di chúc được lập thông qua việc Lập vi bằng được pháp luật công nhận và đảm bảo tính hợp pháp để thực hiện nguyện vọng về cách phân chia di sản của mình cho người khác sau khi qua đời.











